Bắt tạm giữ người bao nhiêu giờ là đúng pháp luật?

Tin mới

Điều 86 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 có quy định về Tạm giữ như sau:

1. Tạm giữ có thể được áp dụng đối với những người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã.

2. Những người có quyền ra lệnh bắt khẩn cấp quy định tại khoản 2 Điều 81 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Chỉ huy trưởng vùng Cảnh sát biển có quyền ra quyết định tạm giữ.

Người thi hành quyết định tạm giữ phải giải thích quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.

3. Trong thời hạn 12 giờ, kể từ khi ra quyết định tạm giữ, quyết định tạm giữ phải được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp. Nếu xét thấy việc tạm giữ không có căn cứ hoặc không cần thiết thì Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ và người ra quyết định tạm giữ phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ.

Quyết định tạm giữ phải ghi rõ lý do tạm giữ, ngày hết hạn tạm giữ và phải giao cho người bị tạm giữ một bản.

Đồng thời, Điều 87 Bộ luật Tố tụng hình sự  năm 2003 có quy định về Thời hạn tạm giữ cụ thể như sau:

1. Thời hạn tạm giữ không được quá ba ngày, kể từ khi Cơ quan điều tra nhận người bị bắt.

2. Trong trường hợp cần thiết, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ, nhưng không quá ba ngày. Trong trường hợp đặc biệt, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ lần thứ hai nhưng không quá ba ngày. Mọi trường hợp gia hạn tạm giữ đều phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn; trong thời hạn 12 giờ, kể từ khi nhận được đề nghị gia hạn và tài liệu liên quan đến việc gia hạn tạm giữ, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn.

3. Trong khi tạm giữ, nếu không đủ căn cứ khởi tố bị can thì phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ.

4. Thời gian tạm giữ được trừ vào thời hạn tạm giam. Một ngày tạm giữ được tính bằng một ngày tạm giam.

Như vậy thời hạn tạm giữ tối đa theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự hiện nay là 9 ngày.

Bình luận

Xem thêm

Lừa đảo chiếm đoạt tài sản có được hưởng án treo không? - Luật Trung Kiên

Lừa đảo chiếm đoạt tài sản có được hưởng án treo không?

Bạn tôi bi Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện truy tố về tội lừa đảo theo Điều 139 khoản 2 điểm e. Bạn tôi đã khắc phục hậu quả, là lao động chính đang nuôi 02 con nhỏ dưới 6 tuổi chưa có tiền án tiền sự, gia đình có ông nội và bố đẻ có công với cách mạng. Hành vi này mức án thế nào, có được hưởng án treo không?
Hành vi không thực hiện trả hết nợ sau khi tòa án đã giải quyết - Luật Trung Kiên

Hành vi không thực hiện trả hết nợ sau khi tòa án đã giải quyết

Tôi có cho một người bạn mượn tiền, số tiền 70.000.000 đồng. Tôi đã làm đơn khởi kiện ra tòa án dân sự và Tòa án đã giải quyết yêu cầu trả tiền cho tôi từ năm 2012 đến năm 2013, nhưng kể từ đó đến nay, người đó chỉ trả cho tôi 13.000.000 đồng. Và hiện tại người đó đi khỏi địa phương cư trú. Tôi có gọi điện nhưng không bắt máy. Xin hỏi, tôi có thề kiện Người đó ra Công an về tội lợi dụng chiếm đoạt tài sản hay không? Và tôi phải làm đơn thế nào?
Phạm tội mới trong thời gian được hưởng án treo - Luật Trung Kiên

Phạm tội mới trong thời gian được hưởng án treo

Ví dụ, tội đánh bạc lần 1, tòa án tuyên phạt anh 2 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 4 năm. Đến năm thứ 2 hoặc năm thứ 3 của thời gian thử thách (đang trong thời gian thử thách) anh lại tiếp tục có hành vi đánh bạc trái phép theo quy định tại Điều 248 Bộ luật Hình sự, bị tòa án tuyên phạt anh 3 năm tù, thì Toà án quyết định buộc phải chấp hành hình phạt của bản án 2 năm tù cho hưởng án treo cộng với hình phạt 3 năm tù của bản án tội đánh bạc mới, có nghĩa buộc anh phải chấp hình hình phạt tù có thời hạn là 5 năm.